Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Hợp đồng tặng cho

  1. a) Thành phần hồ sơ, bao gồm:
  2. Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng giao dịch (theo mẫu)
  3. Dự thảo hợp đồng giao dịch
  4. Bản sao giấy tờ tùy thân: chứng minh nhân dân/ chứng minh quân đội/Hộ chiếu của các bên tham gia giao dịch.
  5. Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định:

4.1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (được cấp theo quy định của luật đất đai theo các thời kỳ), Giấy tờ về việc đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính theo quy định

4.2 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (theo mẫu NĐ 60/CP và mẫu NĐ 90/2006/NĐ-CP).

4.3 Giấy tờ được cấp hoặc chứng nhận trước ngày 30/4/1975 cho người có quyền sở hữu nhà, sử dụng đất mà người ấy vẫn quản lý, sử dụng liên tục đến nay và không có tranh chấp :

4.3.1 Bằng khoán điền thổ (đất thổ cư) có ghi rõ trên đất có nhà ; Văn tự đoạn mãi bất động sản (nhà và đất) có chứng nhận của Phòng chưởng khế Sài Gòn, đã trước bạ (đối với trường hợp việc đoạn mãi này chưa được đăng ký vào bằng khoán điền thổ).

4.3.2 Giấy phép cho xây cất nhà hoặc giấy phép hợp thức hóa kiến trúc được cấp bởi cơ quan thẩm quyền của chế độ cũ : Đô trưởng Sài Gòn, Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định hoặc của các tỉnh khác, nay thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh.

4.3.3 Văn tự mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu nhà có chính quyền chế độ cũ thị thực hoặc chứng nhận đã trước bạ ; Văn tự mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu nhà không có thị thực hoặc chứng nhận của chính quyền chế độ cũ đã trước bạ.

4.4 Giấy tờ được cấp hoặc chứng nhận sau ngày 30/4/1975 :

4.4.1 Quyết định, Giấy phép hay Giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân thành phố, Ủy ban Xây dựng cơ bản thành phố, Sở Xây dựng thành phố, Sở Quản lý nhà đất và Công trình công cộng thành phố, Sở Nhà Đất thành phố, Kiến Trúc Sư Trưởng thành phố, Ủy ban nhân dân quận – huyện công nhận quyền sở hữu nhà (đã trước bạ) hoặc cho phép xây dựng nhà, đã trước bạ.

Đối với Giấy phép xây dựng được cấp từ ngày 23/01/1992 đến ngày 06/10/1993 phải là Giấy phép xây dựng được cấp sau khi đã có giấy phép khởi công xây dựng.

Giấy phép xây dựng được cấp từ ngày 15/10/1993 trở về sau phải kèm theo biên bản kiểm tra công trình hoàn thành và chứng từ sở hữu nhà cũ (nếu là xây dựng trên nền nhà cũ) hoặc kèm chứng từ sử dụng đất hợp lệ theo hướng dẫn tại Công văn số 647/CV-ĐC (điểm 2, 3, 4, 7, 8, 9 của Mục I và toàn bộ Mục II) ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính (nếu là xây dựng trên đất trống) mới được coi là hợp lệ về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

Giấy phép xây dựng được cấp từ ngày 01/01/1995 phải được trước bạ theo quy định.

4.4.2 Các giấy phép ủy quyền (sở hữu) nhà do Sở Nhà đất thành phố hoặc Ủy ban nhân dân quận – huyện đã cấp, có nội dung công nhận quyền sở hữu nhà cho người thụ ủy và đã làm thủ tục trước bạ chuyển quyền.

4.4.3 Quyết định cấp phó bản chủ quyền nhà của các cơ quan có thẩm quyền (thay thế bản chính).

4.4.4 Quyết định hoặc giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân huyện cấp, công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà tại khu vực nông thôn trước khi có quyết định chuyển thành đô thị của cơ quan có thẩm quyền hoặc ngoài khu nội thị trấn tại các huyện, đã trước bạ.

(Các loại giấy tờ nêu tại mục 4.4 này, nếu có yêu cầu phải trước bạ mà chưa thực hiện và hiện trạng nhà, đất không thay đổi thì nay được trước bạ theo quy định của pháp luật).

4.5 Giấy tờ được lập, cấp hoặc chứng nhận trước và sau ngày 30/4/1975 phải kèm theo chứng từ hợp lệ của chủ cũ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên:

4.5.1 Tờ di chúc hoặc tờ thỏa thuận tương phân di sản về nhà ở được lập tại phòng Chưởng khế Sài Gòn, tại Phòng Công chứng Nhà nước hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận và đã trước bạ.

4.5.2 Bản án hoặc quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà đã có hiệu lực pháp luật và đã trước bạ.

4.5.3 Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà lập tại cơ quan công chứng Nhà nước hoặc Ủy ban nhân dân huyện nơi có căn nhà tọa lạc, đã nộp lệ phí trước bạ và đăng ký tại Sở Địa chính – Nhà đất hoặc Ủy ban nhân dân quận – huyện, Phòng Quản lý đô thị huyện trước đây.

4.5.4 Văn bản bán đấu giá bất động sản có chứng nhận của Công chứng viên và bản án, quyết định, văn bản có liên quan của Tòa án, Cơ quan thi hành án, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, đã trước bạ và đăng ký tại Sở Địa chính – Nhà đất trong trường hợp nhà mua qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc mua phát mãi của cơ quan thi hành án.

  1. 5. Bản vẽ hiện trạng (đối với những trường hợp nhà đã xây dựng lại hoặc hoạ đồ nhà chưa được thể hiện trên giấy chủ quyền)/ hoặc đối với những trường hợp tặng cho tách thửa.
  2. Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng giao dịch mà pháp luật quy định phải có:

6.1 Giấy tờ chứng minh về tình trạng tài sản chung/riêng (trong trường hợp bên chuyển nhượng là cá nhân)

+Án ly hôn chia tài sản/án phân chia thừa kế/văn bản tặng cho tài sản…

+Thỏa thuận phân chia tài sản chung riêng/nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ chồng

+Văn bản cam kết/thỏa thuận về tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

+Giấy chứng nhận kết hôn/ xác nhận về quan hệ  hôn nhân (trong trường hợp sống chung nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn)

+Giấy tờ xác định về việc tài sản nằm ngoài thời kỳ hôn nhân:

-Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân (chưa đăng ký kết hôn từ trước đến nay;

-Xác nhận về tình trạng hôn nhân từ khi ly hôn/ từ khi vợ-chồng chết đến nay chưa đăng ký kết hôn lại …) trên cơ sở đối chiếu với thời điểm tạo dựng tài sản.

6.2 Giấy tờ về thẩm quyền đại diện:

-Trong trường hợp giao dịch của người chưa thành niên:

+khai sinh

+Trong trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch: Giấy cam kết về việc đại diện vì lợi ích cho con chưa thành niên trong các giao dịch dân sự của con chưa thành niên

+Trong trường hợp người chưa thành niên thực hiện các giao dịch: Giấy chấp thuận của người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên thực hiện, xác lập giao dịch dân sự theo quy định pháp luật.

– Trong trường hợp đại diện theo ủy quyền:

+Hợp đồng ủy quyền được lập đúng hình thức qui định

-Trong trường hợp mất/hạn chế  năng lực hành vi:

+Án tòa tuyên bố mất năng lực hành vi/hạn chế năng lực hành vi dân sự

+Văn bản thỏa thuận cử người giám hộ, người giám sát giám hộ, đăng ký giám hộ

+Văn bản cam kết về việc người giám hộ giao dịch vì lợi ích của người mất năng lực hành vi, có sự đồng ý của người giám sát giám hộ

6.3 Trong trường hợp một bên là cá nhân:

+Người Việt Nam: Hộ khẩu đối với cá nhân

+ Người Việt Nam định cư ở nước Ngoài:

-Hộ chiếu Việt Nam; / Hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ chứng minh nguồn gốc Việt nam (giấy chứng nhận có quốc tịch Việt nam, thôi quốc tịch Việt nam, đăng ký công dân)

-Các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được mua nhà tại Việt Nam:

  1. a) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam là người trực tiếp hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư : xuất trình Giấy chứng nhận đầu tư;
  2. b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có công đóng góp với đất nước bao gồm: người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 29 tháng 6 năm 2005; người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước, Chính phủ tặng Huân chương, Huy chương; được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; được Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành ở Trung ương tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp của ngành đó; người tham gia vào Ban Chấp hành của các tổ chức chính trị – xã hội của Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức chính trị – xã hội đó xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội, người là nòng cốt trong các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với trong nước thông qua Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài và người có những đóng góp và giúp đỡ tích cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;
  3. c) Nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước bao gồm: nhà văn hoá, nhà khoa học được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật của Việt Nam hoặc của nước ngoài; chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế – xã hội: xuất trình xác nhận của lãnh đạo cơ quan mời (lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mời về Việt Nam làm chuyên gia, cộng tác viên khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật).
  4. d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép về sống ổn định tại Việt Nam là người có đơn đề nghị về sinh sống ổn định tại Việt Nam : Xuất trình văn bản chấp thuận của cấp có thẩm quyền của cơ quan Đại diện ngoại giao Việt Nam.
  5. e) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được sở hữu 01 nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ: xuất trình giấy tờ v/v được phép về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên trong cùng thời gian cư trú tại Việt Nam.
  6. f) nếu không thuộc các đối tượng trên, thì khi được tặng cho, chỉ được hưởng giá trị nhà ở

+ cá nhân, tổ chức nước ngoài :

–          Hộ chiếu

–          Giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc Hội về thí điểm cho tổ chức , cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

(Cá nhân nước ngoài quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 2 của Nghị quyết phải đang sinh sống tại Việt Nam, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ một năm trở lên và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam;

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 5 Điều 2 của Nghị quyết này phải có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ chứng nhận hoạt động đầu tư tương ứng với hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đầu tư) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp)

6.4 Trong trường hợp một bên là pháp nhân

+Giấy đăng ký kinh doanh

+Con dấu của pháp nhân (để đóng dấu vào văn bản công chứng)

+Biên bản họp của Hội đồng thành viên/hội đồng quản trị/đại hội cổ đông/ban chủ nhiệm Hợp tác xã/đại hội xã viên về việc chấp thuận hợp đồng giao dịch mua /bán tài sản./hoặc văn bản đồng ý của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với giao dịch không thuộc thẩm quyền quyết định của người đại diện theo pháp luật (theo quy định của điều lệ doanh nghiệp và văn bản pháp luật )…

+kèm Điều lệ của Doanh nghiệp/Hợp tác xã.

6.5 Giấy tờ chứng minh về năng lực hành vi (giấy khám sức khỏe/tâm thần…) trong trường có nghi ngờ về năng lực hành vi của bên tham gia giao kết hợp đồng.

6.6 Chứng minh nhân dân của người làm chứng/ người phiên dịch (trong trường hợp cần phải có người làm chứng/ người phiên dịch)

6.7 Một số giấy tờ khác liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất:

+giấy tờ xác nhận về nguồn gốc đất giao, nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với trường hợp bên chuyển nhượng là tổ chức kinh tế)

+Giấy tờ về việc nộp tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hay đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm (trong trường hợp chuyển nhượng đối với quyền sử dụng đất đã thuê trước ngày luật đất đai 2003 có hiệu lực và tài sản trên đất.)

  1. Văn bản cam kết của các bên giao dịch về đối tượng giao dịch là có thật
  2. b) Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

Đăng ký chữ ký

HỒ SƠ HƯỚNG DẪN VIỆC

ĐĂNG KÝ CHỮ KÝ MẪU

* Hồ sơ đề nghị đăng ký mẫu chữ ký gồm:

– Văn bản đề nghị đăng ký mẫu chữ ký của tổ chức đăng ký mẫu chữ ký trong đó có mẫu chữ ký của người đăng ký kèm theo, chữ ký của người đăng ký phải ký trực tiếp, không được phô tô và không được sử dụng chữ ký đóng dấu lại (bản chính).

– Chứng minh nhân dân của người đăng ký mẫu chữ ký (bản sao có chứng thực).

– Quyết định bổ nhiệm của người đăng ký mẫu chữ ký (bản sao có chứng thực).

– Văn bản uỷ quyền của người có thẩm quyền cho người đăng ký mẫu chữ ký trong văn bản ủy quyền phải xác định rõ nội dung, thời hạn, phạm vi uỷ quyền….. (bản sao có chứng thực).

– Giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập (bản sao có chứng thực).

– Giấy chứng nhận mẫu dấu do công an cấp (bản sao có chứng thực).

Lưu ý:

– Người đăng ký mẫu chữ ký hoặc nhân viên của tổ chức đề nghị đăng ký mẫu chữ ký (kèm theo giấy giới thiệu) có thể trực tiếp mang hồ sơ đề nghị đăng ký mẫu chữ ký đến Phòng Công chứng số 1 Tp.HCM để đăng ký mẫu chữ ký hoặc gửi hồ sơ đề nghị đăng ký mẫu chữ ký qua đường bưu điện về Phòng công chứng số 1 Tp.Hồ Chí Minh để đăng ký mẫu chữ ký.

– Đối với các tổ chức đề nghị đăng ký mẫu chữ ký tại Tp. Hồ Chí Minh thì có thể yêu cầu Phòng Công chứng 1 Tp.HCM cử cán bộ của Phòng đến tại trụ sở của tổ chức đề nghị đăng ký mẫu chữ ký để hướng dẫn hồ sơ cũng như thực hiện việc đăng ký mẫu chữ ký./.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Mở rộng thẩm quyền công chứng

Theo ông Từ Dương Tuấn, Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp – Sở Tư pháp TP HCM, công chứng viên còn có nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của pháp luật về chứng thực

Phóng viên: Những điểm mới của Luật Công chứng 2014, chính thức có hiệu lực từ ngày 1-1-2015, là gì thưa ông?

Mở rộng thẩm quyền công chứng

– Ông Từ Dương Tuấn: So với Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng 2014 có nhiều điểm mới, góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập về thể chế, nâng cao chất lượng hoạt động công chứng, công chứng viên (CCV), tổ chức hành nghề công chứng nhằm phục vụ tốt và hiệu quả hơn nhu cầu công chứng của người dân. Chẳng hạn, mở rộng phạm vi công việc mà CCV được thực hiện, bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động công chứng, sửa đổi bổ sung quy định về tiêu chuẩn chuẩn CCV, tập sự hành nghề công chứng, bổ nhiệm lại CCV, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của CCV, bồi thường và bồi hoàn trong hoạt động công chứng, mức trần thù lao công chứng…

* Ông có thể nói rõ hơn về phạm vi công chứng? Ngoài phòng tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã, người dân có thể đến các văn phòng công chứngchứng thực được không?

– Điểm nổi bật của Luật Công chứng lần này là việc mở rộng phạm vi công việc mà CCV được thực hiện. Cụ thể, bên cạnh nhiệm vụ chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, Luật Công chứng 2014 còn giao cho CCV thực hiện một số công việc mới so với Luật Công chứng 2006. Đó là việc giao cho CCV của tổ chức hành nghề công chứng quyền công chứng, phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại (khoản 3, điều 61).

 

Người dân làm thủ tục công chứng tại Phòng Công chứng số 1, TP HCM
Người dân làm thủ tục công chứng tại Phòng Công chứng số 1, TP HCM

 

Luật Công chứng 2006 không tiếp tục quy định CCV được công chứng bản dịch mà giao cho phòng tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực chữ ký của người dịch, dẫn đến chất lượng bản dịch còn hạn chế, trong khi trách nhiệm của người chứng thực và người dịch không rõ ràng, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi người dân. Quy định mới đã khắc phục được hạn chế này.

Bên cạnh đó, CCV còn được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản. Việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực (điều 77). Trước đây, khi người dân đến yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận hợp đồng, giao dịch như thuê nhà, chuyển quyền sở hữu nhà, chuyển quyền sử dụng đất mà có nhu cầu chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ tài liệu liên quan để đăng ký sang tên hoặc nộp thuế thì tổ chức công chứng không làm được, phải hướng dẫn người dân đến UBND phường, xã để sao y, đến phòng tư pháp thực hiện bản dịch. Như vậy gây bất tiện, phiền hà cho người dân. Có thể nói Luật Công chứng sửa đổi kỳ này đã tạo thuận lợi rất lớn cho người dân khi có yêu cầu công chứng giấy tờ, bản dịch; đồng thời giảm bớt sự quá tải của phòng tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã trong việc chứng thực.

* Vậy thù lao công chứng tại các văn phòng công chứng được quy định ra sao? Thời hạn lưu trữ đối với bản chính của hồ sơ công chứng là bao lâu?

– Theo khoản 2, điều 67 Luật Công chứng 2014, tổ chức hành nghề công chứng không còn được tự mình ấn định một mức thù lao bất kỳ như trước đây, mà UBND cấp tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương. Trên cơ sở đó, tổ chức hành nghề công chứng xác định mức thù lao đối với từng loại việc không vượt quá mức trần thù lao công chứng do UBND cấp tỉnh ban hành và niêm yết công khai các mức thù lao tại trụ sở của mình. Tổ chức hành nghề công chứng thu thù lao cao hơn mức trần và mức thù lao đã niêm yết thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. Quy định mới nhằm khắc phục tình trạng một số tổ chức hành nghề công chứng hiện nay thu thù lao, chi phí công chứng không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền của người yêu cầu công chứng.

Thời hạn lưu trữ hồ sơ công chứng cũng được thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế và tầm quan trọng của các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ công chứng. Luật Công chứng 2006 quy định thời hạn lưu trữ đối với bản chính của văn bản công chứng ít nhất 20 năm, các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất 5 năm. Trong khi đó, Luật Công chứng 2014 quy định rõ vấn đề này tại khoản 2, điều 64 như sau: "Bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ ít nhất 20 năm tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp lưu trữ ngoài trụ sở thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Tư pháp".

 

Đáp ứng nhu cầu công chứng

TP HCM có 52 tổ chức hành nghề công chứng, trong đó có 7 phòng công chứng và 45 văn phòng công chứng, với 247 CCV hành nghề. Các tổ chức hành nghề công chứng tại TP được phân bổ tương đối đều về địa lý, gắn kết với địa bàn dân cư, đáp ứng được nhu cầu công chứng ngày càng tăng và đa dạng của người dân.

Trong năm 2014, các tổ chức hành nghề công chứng tại TP đã thực hiện được 777.655 việc công chứng, tăng 0,6% so với năm 2013. Trong đó, các phòng công chứng đã thực hiện 233.167 việc và văn phòng công chứng thực hiện 544.488 việc.

 

Bài và ảnh: Trường Hoàng

Thiếu thông tin, văn phòng công chứng thua kiện

Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, văn phòng công chứng không biết bên chuyển nhượng đang có nghĩa vụ phải thi hành án.

TAND huyện Cái Bè, Tiền Giang vừa tuyên xử Văn phòng Công chứng MT thua kiện một đương sự vì liên quan đến việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giúp người phải thi hành án (THA) tẩu tán tài sản. Đây là vụ án khá hiếm hoi khi người được THA trực tiếp kiện văn phòng công chứng ra tòa.

Không thi hành án và tẩu tán tài sản

cần vốn làm ăn, vợ chồng ông HVD đã vay vợ chồng ông Nguyễn Duy Ninh ở Cái Bè, Tiền Giang 600 triệu đồng. Do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng ông D. không có tiền trả cho vợ chồng ông Ninh đúng hẹn. Vợ chồng ông Ninh đã khởi kiện để yêu cầu vợ chồng ông D. trả số nợ trên.

Khi hòa giải, hai bên đã thỏa thuận là vợ chồng ông D. sẽ trả nợ cho vợ chồng ông Ninh 600 triệu đồng bằng cách trả làm sáu lần, mỗi lần trả 100 triệu đồng, lần thứ nhất vợ chồng ông D. phải trả cho vợ chồng ông Ninh là vào ngày 18-9-2014. Trên cơ sở đó, ngày 26-4-2014, TAND huyện Cái Bè đã ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Đến kỳ trả nợ đầu tiên, vợ chồng ông D. không thực hiện theo thỏa thuận nên vợ chồng ông Ninh đã nộp đơn đến Chi cục THA dân sự huyện Cái Bè yêu cầu THA. Quá trình xác minh, cơ quan THA được biết vợ chồng ông D. có căn nhà gắn liền với thửa đất có diện tích trên 1.000 m2. Tuy nhiên, vào ngày 29-8-2014 (sau khi có quyết định của tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hơn bốn tháng), vợ chồng ông D. đã chuyển nhượng cho cháu vợ của mình là anh H. với giá 100 triệu đồng. Khi chuyển nhượng, hai bên có lập hợp đồng và được Văn phòng Công chứng MT công chứng hợp đồng, anh H. cũng đã làm thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất.

Nhà, đất của vợ chồng ông D. đã chuyển nhượng cho bên thứ ba để né nghĩa vụ thi hành án. Ảnh: MINH KHÁNH

"Hợp đồng vô hiệu do giả tạo"

Biết chuyện, vợ chồng ông Ninh khởi kiện Văn phòng Công chứng MT, yêu cầu TAND huyện Cái Bè tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng Công chứng MT công chứng vô hiệu do giả tạo. Theo đơn kiện, vợ chồng ông Ninh cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với thửa đất của vợ chồng ông D. là nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án; hợp đồng hai bên lập là giả tạo…

Tại phiên tòa sơ thẩm mới đây, mẹ ruột anh H. (người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông D.) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà này cho rằng thực tế giá chuyển nhượng là 570 triệu đồng, số tiền chuyển nhượng khai theo hợp đồng là nhằm giảm chi phí công chứng, giảm khoản thuế phải nộp khi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.

Theo bà, khi chuyển nhượng, bà để cho con của bà (tức anh H.) đứng tên và tính đến thời điểm hiện tại thì nhà và đất vẫn do vợ chồng ông D. quản lý. Số tiền chuyển nhượng 570 triệu đồng là do bà trừ tiền nợ của vợ ông D. nợ mình 130 triệu đồng, số còn lại là do bà lãnh trả nợ thay cho vợ chồng ông D.

Tuy nhiên, phía ông Ninh cho rằng hai bên tham gia trong hợp đồng đã thỏa thuận giá chuyển nhượng là 570 triệu đồng nhưng ghi trong hợp đồng chỉ là 100 triệu đồng. Giá ghi trong hợp đồng thấp hơn khung giá nhà nước quy định, thấp hơn rất nhiều lần so với giá trị thực tế nên hợp đồng này không thể hiện ý chí của các bên.

Hủy hợp đồng vì vi phạm Thông tư 14

theo vợ chồng ông Ninh, trước thời điểm ký kết hợp đồng, vợ chồng ông D. đã phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông và đã được công nhận bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án. Việc hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng bằng cách tự ý cấn trừ nợ với nhau đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông.

"Mặt khác, hợp đồng hai bên được lập sau ngày có quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự là vi phạm khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC (hướng dẫn về thủ tục THA dân sự và phối hợp liên ngành trong THA dân sự)" – phía nguyên đơn lập luận.

Tuy nhiên, phía bị đơn – Văn phòng Công chứng MT lại cho rằng nhà và quyền sử dụng đất này không bị kê biên. Tòa án và các đương sự cũng không gửi quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự giữa vợ chồng ông D. và vợ chồng ông Ninh cho văn phòng công chứng. Vì vậy, việc chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông D. với anh H. là hoàn toàn đúng pháp luật. Từ đó phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Sau khi xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ, HĐXX TAND huyện Cái Bè đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Cách nào giảm thiểu thiệt hại?

Qua sự việc trên cho thấy việc các đương sự ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau thời điểm bản án, quyết định của tòa án nhưng tới giai đoạn yêu cầu THA là rất phổ biến. Trong trường hợp này, các tòa án đều không gửi quyết định, bản án cho các phòng công chứng/văn phòng công chứng.

Trong khi đó trong hợp đồng, bên chuyển nhượng chỉ cam kết là tài sản không bị tranh chấp, không bị kê biên… nên các tổ chức công chứng cứ công chứng hợp đồng mà không xác minh xem người chuyển nhượng có hành vi tẩu tán tài sản như trường hợp trong bài này hay không.

Thiết nghĩ, để tránh hành vi tẩu tán tài sản, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân, các cơ quan chức năng nên có những giải pháp hữu hiệu hơn. Chẳng hạn như cần có quy định việc gửi bản án, quyết định của tòa án đến các tổ chức công chứng. Ngoài ra, cần bổ sung nội dung thỏa thuận, cam kết của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng thì họ không có nghĩa vụ nào theo các quyết định, bản án của tòa án…

Về phía người dân, để tự bảo về quyền lợi của mình, khi tham gia giao dịch, các bên có thể thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (thế chấp tài sản, cầm cố tài sản…). Trường hợp trước đó không thực hiện các biện pháp này thì khi khởi kiện có thể yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn một bên chuyển nhượng, tẩu tán tài sản.

Kê biên, xử lý tài sản để thi hành án

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải THA bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để THA thì tài sản đó vẫn bị kê biên để THA, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm THA, biện pháp cưỡng chế THA mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải THA không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để THA.

(Trích khoản 1 Điều 6  Thông tư liên tịch 14/2010)

MINH KHÁNH